
Đậu nành khô (Dried Soybeans) có tên khoa học Glycine max, thuộc họ Đậu (Fabaceae). Đây là loại hạt họ đậu có nguồn gốc từ Đông Á, hiện được trồng phổ biến tại nhiều quốc gia có khí hậu phù hợp, trong đó có Việt Nam. Hạt đậu nành khô thường có dạng tròn hoặc bầu dục, kích thước nhỏ đến trung bình, vỏ màu vàng kem đến vàng nhạt và phần nhân màu vàng nhạt.
Đặc điểm đặc trưng
Hạt có dạng tròn, bầu dục hoặc hơi dẹt, kích thước tương đối đồng đều. Hạt trưởng thành có lớp vỏ ngoài bao phủ toàn bộ phần nhân và thường có rốn hạt nhỏ, màu nâu nhạt hoặc vàng nâu.
Vỏ hạt có màu vàng kem đến vàng nhạt, bề mặt tương đối nhẵn, khô và chắc. Hạt đạt chất lượng tốt không bị nứt vỡ nghiêm trọng, mọt hoặc biến đổi màu bất thường.
Phần nhân bên trong có màu vàng nhạt, cấu trúc chắc ở trạng thái khô. Khi ngâm, hạt hút nước và nở lên; sau khi nấu chín, hạt mềm và có thể nghiền hoặc xay dễ dàng.
Nguyên liệu đạt yêu cầu khi hạt khô, sạch, nguyên vẹn, không có nấm mốc, côn trùng, mọt, tạp chất lạ hoặc mùi ôi, mùi mốc và mùi bất thường.
Mùi vị & Kết cấu
Đậu nành khô có mùi thơm nhẹ đặc trưng của đậu, vị bùi và hơi béo. Khi được ngâm và nấu chín, hạt mềm, bở và có độ béo tự nhiên, phù hợp cho quá trình xay, nghiền và chế biến.
Công dụng & Ứng dụng
Đậu nành khô được sử dụng phổ biến để sản xuất sữa đậu nành, đậu phụ, tàu hũ và các sản phẩm chế biến từ đậu nành. Hạt có thể được ngâm, xay và lọc để thu dịch sữa hoặc nghiền để chế biến các sản phẩm khác.
Ngoài ra, đậu nành được sử dụng để sản xuất bột đậu nành, dầu đậu nành, nước tương và nhiều nguyên liệu, thực phẩm có nguồn gốc từ đậu nành.
Về dinh dưỡng, đậu nành là nguồn cung cấp protein thực vật đáng kể, đồng thời chứa chất béo không bão hòa, carbohydrate, chất xơ, vitamin nhóm B và các khoáng chất như canxi, sắt, magie và kali.








_600x600.bmp&w=3840&q=75)









